Diễn biến giá vàng qua các năm từ năm 1973 đến 2000


14/04/2022

Tổng hợp giá vàng qua các năm 1973 đến 2000 bao gồm thống kê lịch sử giá vàng từ năm 1973 đến 2000 và biểu đồ giá vàng 10 năm gần đây của thế giới và biểu đồ của việt nam mới cập nhật để người tiêu dùng có được cái nhìn tổng quan kênh đầu tư vàng có các biến động như thế nào, xem lịch sử giá vàng qua các năm bạn sẽ biết giá đáy là bao nhiêu, đỉnh là những năm nào.

Diễn biến giá vàng qua các năm từ năm 1973 đến 2000

Giá vàng từ năm 1980 đến 1999 trên thế giới

Tháng 1/1980: Giá vàng lập kỷ lục 850 USD/ounce. Lạm phát tăng mạnh bởi giá dầu cao, sự can thiệp của Liên Xô ở Afghanistan và tác động của cuộc cách mạng Iran nhắc nhở nhà đầu tư tìm về kim loại quý.

Tháng 8/1999: Giá vàng rơi xuống 251,7 USD/ounce bởi nỗi lo các ngân hàng trung ương giảm dự trữ vàng và các công ty khai mỏ đẩy mạnh bán vàng trên thị trường kỳ hạn để bảo vệ tài sản khỏi sự lao dốc của giá.

Tháng 10/1999: Giá vàng lên mức cao nhất 2 năm ở 338 USD/ounce sau khi 15 ngân hàng trung ương châu Âu đưa ra thỏa thuận hạn chế bán vàng.

Hơn 20 năm kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, giá vàng năm 1997 vẫn được nhắc đến. Nó trở thành một mô hình đặc trưng cho sự biến động của giá vàng. Vậy vào thời điểm đó chuyện gì đã xảy ra? Giá vàng trực tuyến những năm 1997 bao nhiêu 1 chỉ?

Giá vàng Việt Nam đã tăng từ 460.000 đồng/chỉ vào năm 1997 lên gần 1,3 triệu đồng/chỉ vào đầu tháng 7-2007.

Khủng hoảng tiền tệ châu Á 1997 - nguyên nhân trực tiếp tác động đến giá vàng

Ngày 2/7/1997, sau thất bại của những nỗ lực yếu ớt để không làm mất giá đồng tiền baht của Thái Lan, một cuộc khủng hoảng kinh tế đã diễn ra.

Trong những năm trước đó, Châu Á được xem là một con rồng đang vươn mình mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế nhanh chóng một cách đáng kinh ngạc (8-10%). Chẳng những thế, thị trường chứng khoán, nhu cầu tiêu dùng cũng ngày càng cao. Do vậy, khu vực này thu hút được một nguồn ngoại tệ khổng lồ. Những dòng tiền đầu tư trên khắp thế giới, nhất là dòng tiền ngắn hạn - con dao hai lưỡi dẫn đến khủng hoảng kinh tế.

Diễn biến của khủng hoảng tài chính 1997

Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, các nước châu Á đã ký kết các hợp đồng mua bán ngoại tệ ngắn hạn, lãi suất cao. Riêng đầu năm 1997, người Thái đã ký ít nhất 2 hợp đồng với giá trị lên đến 15 tỷ USD.

Hai trong số đối tác của họ là công ty tài chính Quantum (George Soros) và Tiger Management Corp. Các tổ chức này đã thu mua đồng baht Thái, cho thanh toán chậm từ 6 tháng đến 1 năm. Với tình hình khả quan của kinh tế lúc đó, các nhà đầu tư và Thái Lan đều tin rằng đồng baht sẽ tăng giá.

Từ ngày 14 - 16/5/1997, những dấu hiệu khủng hoảng bắt đầu nhen nhóm. Thị trường tiền tệ ở Thái Lan tràn ngập lệnh bán đồng bath. Để giữ tỷ giá hối đoái ở mức ổn định 25 baht/USD, ngân hàng Trung Ương Thái Lan đã chi ra gần 10 tỷ USD trong vòng 2 tuần. Tuy nhiên, đó vẫn là hành động vô ích khi chỉ ngay sau đó, baht mất giá 50%.

Sau quyết định thả nổi đồng tiền của Thái Lan, đồng baht tiếp tục giảm thêm 108%. Lúc này nó cũng ảnh hưởng đến đồng peso (Philippines), đô la (Singapore), ringgit (Malaysia), rupiah (Indonesia).

Bắt đầu từ Đông Nam Á, cơn sóng khủng hoảng tiếp tục lan ra khiến Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore,...... đều bị ảnh hưởng.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế
Sự phát triển không bền vững

Đầu tiên, tốc độ phát triển của các quốc gia châu Á không tỉ lệ thuận với sự bền vững.

Đa số các quốc gia đều lấy xuất khẩu làm trọng tâm. Do vậy, các nhà hoạch định chính sách đã cố gắng giữ tỷ giá hối đoái ở mức thấp nhất. Điều này giúp các nước có thể tăng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, thay vì neo tiền tệ bền vững thì các ngân hàng Trung Ương lại chọn cách mua bán ngoại hối.


Việc xuất khẩu của các nước chỉ tập trung vào một số mặt hàng gây mất cân đối nghiêm trọng. Cụ thể, chỉ riêng mặt hàng điện tử đã chiếm 21,2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan. Tương tự, tỉ lệ này ở Malaysia là 49,2% và Philippines là 43,6%. Khi công nghệ dần lạc hậu, các quốc gia này vừa bị giảm khả năng cạnh tranh vừa phải tăng nhập khẩu. Điều này dẫn đến tài khoản vãng lai bị thâm hụt nghiêm trọng so với mức cho phép là 5% GDP. Trong năm 1996, độ thâm hụt của Thái đã lên đến 8,5%. Ở Philippines, tỉ lệ này lên đến 13%.
  • Sự mất cân đối trong đầu tư
Để bù đắp cho sự thiếu hụt ngoại tệ, các nước châu Á đã lựa chọn hình thức vay vốn nước ngoài. Chính sách phát triển lúc này chỉ tập trung vào số lượng chứ không phải chất lượng. Nghĩa là, các nước sẽ vay vốn, tăng sản xuất để chiếm thị trường. Sau khi ổn định mới tính đến chuyện kiếm lời. Tuy nhiên, khi nguồn cung vượt nhu cầu của thế giới thì thua lỗ là một chuyện tất yếu.

Thay vì vay các nguồn vốn dài hạn, Thái Lan, Hàn Quốc,... lại chọn vay ngắn hạn với lãi suất cao hơn. Ở Thái Lan, tỷ lệ nợ ngắn hạn chiếm đến 45%. Còn ở Hàn Quốc, có đến 80 tỷ trong số 110 tỷ USD tổng nợ nước ngoài là nợ ngắn hạn.

Sau khi có được nguồn ngoại tệ, việc quản lý vốn cũng có nhiều bất cập. Nguồn tiền ngắn hạn lại được dùng đầu tư vào các dự án dài hạn như kết cấu hạ tầng, bất động sản, địa ốc,... Các ngân hàng cũng phê duyệt các khoản đầu tư vô tội vạ, tăng rủi ro do các khoản nợ xấu. Vào thời điểm đó, nợ xấu chiếm đến 20%, 23% GDP lần lượt ở các nước Thái Lan, Malaysia.

Thêm nữa, có đến 80% vốn đầu nước ngoài vào châu Á dưới hình thức gián tiếp. Các nhà đầu tư trên thế giới sẽ mua cổ phiếu, cổ phần của các công ty trên sàn chứng khoán. Khi dấu hiệu suy thoái nổ ra, nhà đầu tư bắt đầu bán thốc bán tháo khiến nội tệ bị giảm giá nghiêm trọng.

Ngoài ra, có một số nguyên nhân khác dẫn đến khủng hoảng kinh tế như đầu cơ ngoại tệ, bất ổn chính trị, chính sách tài chính,..

Giá vàng năm 1997 bao nhiêu tiền 1 chỉ

Giá trị của vàng có thể phân tách thành 3 phần khác nhau. Đó chính là giá trị hàng hóa, giá trị tiền tệ và giá trị bảo hiểm rủi ro. Trong các cuộc khủng hoảng kinh tế, giá trị thứ ba của vàng được nhắc đến nhiều nhất.

Tuy nhiên, năm 1997 khi khủng hoảng tiền tệ diễn ra ở châu Á lại là một câu chuyện khác.

Giá vàng năm 1997 giảm đột biến

Vào tháng 7 năm 1997, các ngân hàng trung ương phương Tây bắt đầu giảm dự trữ vàng một cách có trật tự. Bỉ có động thái dùng vàng đúc tiền để ngụy trang, Hà Lan, Thụy Sỹ bán vàng trực tiếp. Úc cũng bán hết 2 phần 3 trữ lượng vàng quốc gia tương đương 1,7 tỷ đô la.

Tính từ đầu đến cuối năm 1997, giá vàng đã giảm từ 365 USD/ounce xuống 287,5 USD/ounce.

Nếu tính theo VND vàng đã giảm từ 4.223 nghìn đồng/lượng (11,57 VND/USD ngày 2/1/1997) xuống 3.534 nghìn đồng/lượng (12,292 VND/USD ngày 31/12/1997).Tức tại thời điểm 1997, giá vàng chỉ khoảng hơn 300 nghìn đồng 1 chỉ. Đây là mức giảm cao nhất kể từ năm 1985.

Nguyên nhân của sự sụt giá này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tiền tệ. Khi đồng tiền của các nước châu Á liên tục rớt giá, thế giới đã nhận ra đồng USD là một kênh trú ẩn an toàn. Do vậy, họ đã tìm mọi cách giảm dự trữ vàng để tăng cường thu mua đô la.

Giá vàng giai đoạn sau năm 1997 biến động như thế nào?

Suốt giai đoạn 10 năm kể từ sau 1997, giá vàng thế giới biến động không ngừng. Có thể chia thành hai giai đoạn như sau:

 


  • Giá vàng từ năm 1998 đến 2000 vẫn tiếp tục giảm

Ngày 24 tháng 3 năm 1998, giá vàng tiếp tục giảm còn 278,7 USD/ounce. Như vậy, vào thời gian này giá vàng Việt Nam đang ở mức 3,617 nghìn đồng/lượng (12,980 VND/USD). Nghĩa là vào đầu năm 1998, một chỉ vàng có giá khoảng 362 nghìn đồng.

Tại thời điểm này, để sản xuất ra 1 lượng vàng phải tốn đến 315 đô la Mỹ. Trong khi chi phí bán ra thấp hơn nhiều chi phí sản xuất. Cộng thêm việc các ngân hàng nhà nước và các chủ đầu tư liên tục bán tháo vàng. Nhu cầu sử dụng vàng đã ít hơn 1000 tấn so với thời gian trước. Hơn một nửa số mỏ vàng trên thế giới đã thua lỗ và đóng cửa.

Đến ngày 6 tháng 7 năm 1999, Ngân hàng Anh đã bán 25 tấn vàng. Trong vòng 3 - 5 năm tiếp theo, ngân hàng Anh có kế hoạch bán tiếp 475 tấn vàng. Điều này kéo giá vàng xuống tiếp 10%, chỉ còn khoảng dưới 260 USD/ounce.

Thị trường ảm đạm của vàng vẫn tiếp tục giảm và phẳng lặng trong gần hai năm tiếp theo.